“BÌNH ĐẲNG GIỚI”- HIỂU THẾ NÀO CHO ĐÚNG


   
     Bản chất của bình đẳng giới là sự tôn trọng tạo điều kiện cho cả nam và nữ cùng phát triển cùng nhau cống hiến nhiều nhất cho xã hội và đáp ứng các nhu cầu của cá nhân. Hình thành nhận thức xã hội đúng đắn về khái niệm bình đẳng giới sẽ là một trong những điều kiện để Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống.

Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ngày 29-10-2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình biện pháp bảo đảm bình đẳng giới trách nhiệm của cơ quan tổ chức gia đình cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới. Tuy nhiên để Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống nếu chỉ có luật thôi thì chưa đủ. Có nhiều lý do khiến cho Luật Bình đẳng giới gặp một số khó khăn để đi vào cuộc sống trong đó có sự hạn chế trong nhận thức xã hội về khái niệm "bình đẳng giới". Thực tế cho thấy hiện nay không ít người vẫn chưa hiểu đúng khái niệm "bình đẳng giới" và cho rằng bình đẳng giới chỉ là bình đẳng nam - nữ; không công bằng trong bình đẳng giới nghĩa là không công bằng giữa nam giới và phụ nữ. Thực chất đây mới là một khía cạnh trong khái niệm bình đẳng giới.
   Theo khoản 1 2 3 điều 5 của Luật Bình đẳng giới thì:

1.      Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ.

2.      Giới là khái niệm chỉ đặc điểm vị trí và vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội.

3.      Bình đẳng giới là việc nam nữ có vị trí vai trò ngang nhau được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó.

Ở đây cần phải phân biệt khái niệm giới tính và khái niệm giới. Vì giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ nên khái niệm này có những đặc điểm:

-         Bị quy định hoàn toàn bởi gen qua cơ chế di truyền từ mẹ sang con cái.

-         Mang tính bẩm sinh (sinh ra đã là nam hay nữ).

-         Các đặc điểm giới tính hầu như không phụ thuộc vào không gian thời gian. (từ xưa cho tới nay ở bất kỳ nơi nào trên trái đất về mặt đặc điểm sinh học thì phụ nữ vẫn là phụ nữ và nam giới vẫn là nam giới).

-         Các đặc điểm sinh học có những biểu hiện thể chất có thể quan sát được trong cấu tạo giải phẫu sinh lý người ( nam và nữ có những đặc điểm sinh học khác nhau về gen cơ quan nội tiết hoóc môn cơ quan sinh dục..)

-         Gắn liền với một số chức năng sinh học (ví dụ phụ nữ có khả năng mang thai và sinh con).

-         Sinh thành biến đổi tuân theo quy luật sinh học không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cá nhân (tuổi dậy thì lão hóa..)

Khác với khái niệm giới tính giới là khái niệm chỉ đặc điểm vị trí và vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội nên có những đặc điểm sau:

-         Một phần còn bị quy định bởi các yếu tố tiền đề sinh học của giới tính ( Ví dụ chúng ta thường nói: Cháu là gái nên rất ngoan ăn nói nhẹ nhàng).

-         Không mang tính di truyền bẩm sinh mà mang tính tập nhiễm ( tức là bị quy định bởi điều kiện sống của cá nhân và xã hội được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt chước học tập ám thị...).

-         Mang tính đa dạng phong phú cả về nội dung hình thức và tính chất. (Chúng ta thấy các đặc điểm giới bộc lộ qua suy nghĩ tình cảm và hành vi của mỗi cá nhân nhóm.)

  Như vậy về bản chất khái niệm giới tính mang tính bình đẳng bởi đơn giản nó chỉ là đặc điểm sinh học của nam và nữ. Nhưng chúng ta thấy trong khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội thì nam và nữ có những đặc điểm vị trí và vai trò không ngang bằng nhau. Đó chính là bất bình đẳng giới. Bởi vậy khi sử dựng thuật ngữ chúng ta không dùng "bất bình đẳng giới tính" mà chỉ được dùng "bất bình đẳng giới".

    Khái niệm "bình đẳng giới" phải được hiểu như thế nào? Theo Luật Bình đẳng giới   thì mọi người dù là nam giới hay phụ nữ với tư cách là các cá nhân đều có quyền bình đẳng và cần được tạo cơ hội để phát huy tiềm năng sắn có của mình cũng như có quyền thụ hưởng bình đẳng trong quá trình phát triển chung như:

- Tiếp cận và sử dụng các nguồn lực (tài chính đất đai thời gian cơ hội...)

- Tham gia quyết định những vấn đề liên quan tới việc sử dụng nguồn lực.

- Tham gia vào các hoạt động chính trị kinh tế văn hóa xã hội...

- Thụ hưởng những thành tựu của sự phát triển.

Bình đẳng giới không có nghĩa và không đòi hỏi số lượng phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động phải ngang bằng nhau mà bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới trẻ em gái và trẻ em trai phải có cơ hội ngang nhau trong việc sử dụng các quyền của họ.Và vì thế bình đẳng giới đòi hỏi các chương trình phát triển các dịch vụ công và các dịch vụ xã hội phải được thiết kế sao cho đáp ứng được các nhu cầu nhiều mặt phù hợp với mức độ ưu tiên khác nhau của phụ nữ và nam giới. Nếu làm được việc này thì sự phát triển kinh tế xã hội sẽ dẫn tới sự công bằng trong việc hưởng thụ các thành quả và mở ra cơ hội như nhau cho phụ nữ và nam giới trong việc phát huy các tiềm năng của cá nhân họ.

Tóm lại bản chất của bình đẳng giới là sự tôn trọng tạo điều kiện cho cả nam và nữ cùng phát triển cùng nhau cống hiến nhiều nhất cho xã hội và đáp ứng các nhu cầu của cá nhân. Hình thành nhận thức xã hội đúng đắn về khái niệm bình đẳng giới sẽ là một trong những điều kiện để Luật Bình đẳng giới đi vào cuộc sống.

                                                                                                 
                                                                                                               XUÂN AN